Điều trị vết thương, cách chọn thuốc
Cồn y tế, tùy thuộc vào nồng độ, có những công dụng khác nhau. Cồn 70% ~ 78% thích hợp để khử trùng da, khử trùng dụng cụ y tế và khử iốt, v.v. Vì cồn có độ kích ứng nhất định, cồn 75% có thể được sử dụng để khử trùng da, nhưng không thể được sử dụng để khử trùng niêm mạc và vết thương lớn. Bệnh nhân nằm liệt giường lâu ngày, do lưng, eo, hông bị đè nén liên tục, dễ bị loét. Cho một lượng nhỏ cồn có nồng độ từ 40% đến 50% vào tay, và xoa bóp đều phần bị đè của bệnh nhân để thúc đẩy tuần hoàn máu tại chỗ và ngăn ngừa sự hình thành loét. Cồn có nồng độ từ 25% đến 50% chủ yếu được sử dụng để hạ sốt bằng phương pháp vật lý. Dùng gạc hoặc khăn mềm nhỏ thấm cồn cho đến khi hơi khô, nhẹ nhàng lau cổ, ngực, tay và chân của bệnh nhân bị sốt cao. Mục đích làm mát có thể đạt được. Lau da bằng cồn có thể làm giãn mạch máu của da và tăng khả năng tỏa nhiệt. Sự bay hơi của cồn cũng có thể hấp thụ và lấy đi rất nhiều nhiệt, từ đó làm giảm các triệu chứng sốt của bệnh nhân. Nhưng nồng độ cồn không nên quá cao, nếu không sẽ gây kích ứng da và lấy đi rất nhiều nước từ lớp biểu bì.
Dung dịch iốt có thể được sử dụng để khử trùng da, ví dụ, trước khi tiêm máu, dùng dung dịch iốt để khử trùng da. Iốt ở nồng độ 2% thường được sử dụng để khử trùng da lành lặn, nhưng nên khử iốt bằng cồn 75% sau khi sử dụng 2-3 phút. Povidon iốt ở nồng độ 0,5% có thể được sử dụng để khử trùng da, vết cắt, trầy xước, bầm tím và các loại chấn thương thông thường khác. Sau khi thấm bằng tăm bông sạch, khử trùng vết thương từ trong ra ngoài. Tuy nhiên, povidon iốt không chứa cồn, không dễ thấm vào dầu mỡ, và không tốt bằng iốt và cồn để khử trùng da đầu nhờn và các bộ phận nhiều dầu mỡ khác. Mặc dù povidon iốt có phạm vi ứng dụng rộng, nhưng vẫn có một số điểm cần lưu ý: bệnh nhân suy thận và bệnh nhân bị bỏng diện tích trên 20% không nên sử dụng; Không nên sử dụng povidon iốt cùng với thuốc đỏ (thường gọi là thuốc đỏ). Đồng thời, tác dụng diệt khuẩn của povidon iốt nhanh, nhưng dung dịch pha loãng không ổn định và nên bảo quản ở nhiệt độ phòng, nơi tối.
Thuốc đỏ, còn được gọi là mercurochrome, thích hợp cho các vết thương da nông, có khả năng thấm yếu và tác dụng diệt khuẩn, ức chế khuẩn hạn chế. Tuy nhiên, thuốc đỏ ít gây kích ứng và thường được sử dụng để khử trùng các vết thương da nông hoặc niêm mạc (như trầy xước). Cần lưu ý rằng những người bị dị ứng với thủy ngân không nên sử dụng thuốc đỏ, nếu không sẽ gây viêm da tiếp xúc. Không thích hợp cho vết thương miệng, vết thương sâu hoặc vết thương có diện tích nhiễm trùng lớn và mưng mủ.
Thuốc tím thích hợp cho các nhiễm trùng mủ trên da và niêm mạc. Nó ít gây kích ứng và sẽ không gây đau khi bôi lên vết thương. Khi sử dụng thuốc tím, bạn nên chú ý những điểm sau: Khi bôi thuốc tím gần mắt, hãy cẩn thận không để thuốc tím vào mắt; không được sử dụng cho tổn thương loét; không nên băng bó trực tiếp sau khi bôi thuốc tím: không nên trộn với thuốc đỏ hoặc sử dụng kết hợp với iốt (dung dịch iốt); thuốc tím không nên để dưới ánh nắng trực tiếp, và chú ý vặn chặt nắp chai khi không sử dụng để thuốc không bị hỏng.

Nội dung trên được thu thập và sắp xếp từ Internet, bản quyền thuộc về người sáng tạo gốc. Nếu có bất kỳ vi phạm nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi để xử lý nội dung bị xóa, cảm ơn!
Trang trước
Trang tiếp theo
Thêm tin tức